RSS

Bài 30: Quá trình hình thành loài (tiếp theo)

06 May
I.         HÌNH THÀNH LOÀI CÙNG KHU VỰC ĐỊA LÍ
1.        Hình thành loài bằng cách li tập tính và cách li sinh sản
a.        Hình thành loài bằng cách li tập tính
Ví dụ: trong một hồ ở Châu Phi, người ta thấy có hai loài cá rất giống nhau về các đặc điểm hình thái và chỉ khác nhau về màu sắc, một loài màu đỏ và một loài có màu xám. Mặc dù cùng sống trong một hồ nhưng chúng không giao phối với nhau. Tuy nhiên khi các nhà khoa học nuôi các cá thể của hai loài này trong một bể cá có chiếu ánh sáng đơn sắc làm chúng trông cùng màu thì các cá thể của hai loài lại giao phối với nhau và sinh con.

Giải thích và kết luận:

– Các cá thể của 1 quần thể do đột biến có được kiểu gen nhất định.

– Kiểu gen mới làm thay đổi 1 số đặc điểm liên quan tới tập tính giao phối dẫn đến các cá thể không giao phối với nhau tạo nên quần thể cách li với quần thể gốc.

– Lâu dần, giao phối không ngẫu nhiên và các nhân tố tiến hoá khác phối hợp tác động tạo sự khác biệt về vốn gen dẫn đến sự cách li sinh sản và hình thành loài mới.

b.        Hình thành loài bằng cách li sinh thái
Ví dụ: một loài côn trùng luôn sinh sống trên loài cây A, sau đó do quần thể phát triển mạnh, một số côn trùng phát tán sang sinh sống ở loài cây B (do chúng có các gen đột biến giúp khai thác được nguồn thức ăn từ loài cây B) trong cùng khu vực địa lí. Các cá thể di cư đó sinh sản, hình thành nên quần thể mới và những cá thể này thường xuyên giao phối với nhau hơn là giao phối với các cá thể của quần thể gốc (sống ở loài cây A). Lâu dần, các nhân tố tiến hóa tác động làm phân hóa vốn gen của hai quần thể. Đến một lúc nào đó, nếu sự khác biệt về vốn gen làm xuất hiện sự cách li sinh sản thì loài mới hình thành.

Giải thích và kết luận:

– Hai quần thể cùng một loài sống trong một khu vực địa lí nhưng ở hai ổ sinh thái khác nhau thì lâu dần cũng có thể dẫn đến cách li sinh sản và hình thành loài mới.

– Đó là vì những cá thể sống cùng nhau trong một sinh cảnh thường giao phối với nhau và ít khi giao phối với cá thể thuộc ổ sinh thái khác.

– Hình thành loài bằng cách lí sinh thái thường xảy ra đối với các loài động vật ít di chuyển.

2.        Hình thành loài nhờ cơ chế lai xa và đa bội hóa
Thí nghiệm của Kapetrenco: ông tiến hành lai cây cải bắp (loài Brassica có 2n=18 nhiễm sắc thể) với cây cải củ ( loài Raphanus có 2n=18 nhiễm sắc thể) với hi vọng tạo ra được loài cây mới có rễ là cải củ còn phần trên cho cải bắp.

Kết quả thí nghiệm: ông thu được rễ của cải bắp và lá của cải củ.

– Con lai khác loài hầu hết đều bất thụ, nhờ đột biến làm nhân đôi toàn bộ số lượng nhiễm sắc thể hình thành thể song nhị bội à giảm phân bình thường à cách li sinh sản với loài bố mẹ à hình thành loài mới.

– Đối tượng: phương thức này thường xảy ra ở thực vật ít xảy ra ở động vật.

VD: Loài lúa mì trồng hiện nay được hình thành nhờ lai xa và đa bội hoá nhiều lần.

– Các loài cây tứ bội lai với cây lưỡng bội à dạng lai tam bội. Nếu con lai tam bội ngẫu nhiên có khả năng sinh sản vô tính hình thành quần thể tam bội thì dạng tam bội cũng là loài mới.

VD: Loài thằn lằn C.sonorae sinh sản bằng hình thức trinh sản.

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Năm 6, 2013 in Uncategorized

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: